Tiểu luận Một số giải pháp thực hiện tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội những năm tới

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọi thời đại. Tuy nhiên, việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn, và trong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Những chính sách dựa trên mục tiêu công bằng có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, những chính sách chỉ nhằm tăng trưởng có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng. Trong nhiều thập kỷ qua, đã có không ít công trình nghiên cứu và nhiều diễn đàn ở các cấp độ khác nhau bàn về chủ đề này, đưa ra những cách lý giải khác nhau về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Dưới đây là trình bày một số vấn đề mang tính lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. 1.1. Khái quát quan niệm về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Trong kinh tế học, tăng trưởng kinh tế được biểu hiện phổ quát là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian. Trong kinh tế học phương Tây, tăng trưởng kinh tế thường chỉ sự gia tăng của giá trị tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc sự gia tăng của giá trị GNP bình quân đầu người. Tuy nhiên, để phán ánh chính xác hơn sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, người ta thường chỉ tính sản lượng ròng của một nền kinh tế, tức là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế đó. Như vậy, tăng trưởng kinh tế được tính bằng mức tăng GDP theo thời gian hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người theo thời gian. Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện mặt lượng của nền kinh tế theo thời gian. Nhà kinh tế học người Mỹ Walter Wiliam Rostow đã dùng khái niệm tăng trưởng trong một lý thuyết tổng quát về phát triển1. Ông chia tiến trình phát triển của xã hội loài người thành năm giai đoạn tăng trưởng từ xã hội truyền thống đến xã hội hiện đại. Quan niệm của W. W. Rostow nhấn mạnh đến nội dung kinh tế của tiến trình phát triển, coi tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Và cũng chính vì vậy, nó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề và nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển, trong đó có công bằng xã hội vì công bằng xã hội là một nội dung quan trọng của phát triển. Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế là cái có thể xác định được bằng những con số, khái niệm công bằng xã hội mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tuỳ thuộc nhiều vào quan điểm của con người. Theo nghĩa rộng, công bằng xã hội là công bằng về các quyền con người (các quyền sống của con người) và về điều kiện thực hiện các quyền đó (điều kiện sống) của các cá nhân- con người (hay rộng hơn, của các chủ thể xã hội). Trong kinh tế học, có hai khái niệm về công bằng xã hội thường được sử dụng là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Công bằng theo chiều ngang nghĩa là đối xử như nhau với những người có đóng góp như nhau. Công bằng theo chiều dọc nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau. Nếu như công bằng theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của chính phủ. Việc phân định và kết hợp công bằng theo chiều dọc và chiều ngang sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự. Như vậy, công bằng xã hội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Xét tổng thể, công bằng xã hội gắn với sự phát triển toàn diện của con người và là kết quả của sự phát triển đó. Chính nội hàm rộng của khái niệm công bằng xã hội đã khiến cho khái niệm này- tuy rất quen thuộc, phổ biến và thông dụng- trở nên phức tạp và khó thống nhất. Cho đến nay, người ta vẫn chủ yếu sử dụng các công cụ đo lường mức độ công bằng trong phân phối thu nhập để biểu đạt công bằng xã hội nói chung. Đặc biệt, trong các xã hội kém phát triển, do vai trò quyết định nổi bật của kinh tế đối với sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và xã hội, nội dung quan trọng nhất của công bằng xã hội trước tiên và chủ yếu là công bằng về kinh tế. Thậm chí, trong không ít trường hợp, công bằng xã hội còn được đồng nhất với công bằng về kinh tế. Tuy nhiên, trong các xã hội phát triển hiện đại, cũng như trong tư duy phát triển hiện đại, nội hàm của công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể. Điều này thể hiện ở chỗ nội dung quan trọng nhất của công bằng xã hội không phải là công bằng về phân phối thu nhập mà là công bằng về cơ hội phát triển. Từ đó, dẫn đến một nhận thức mới về công bằng xã hội là quy vấn đề công bằng xã hội về cơ hội phát triển và năng lực thực hiện cơ hội, nội hàm của khái niệm công bằng xã hội sẽ phải bao hàm sự công bằng trong việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội. Trong một xã hội, khi một chủ thể phát triển có được cơ hội phát triển bình đẳng với các chủ thể khác thì có nghĩa là chủ thể ấy có cơ sở bền vững để đạt được và duy trì một cách vững chắc sự công bằng trong thu nhập. Chủ thể ấy càng có năng lực để tiếp cận, lựa chọn và hiện thực hoá cơ hội phát triển thì tương quan công bằng xã hội của mình càng bền vững. Tính chất rộng và phức tạp của khái niệm công bằng xã hội cũng dẫn đến những khác biệt trong việc thể hiện và các thước đo công bằng xã hội. Trong kinh tế học, các công trình nghiên cứu cũng như các báo cáo phát triển chính thức ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế, người ta thường sử dụng một số công cụ và thước đo chủ yếu như: Đường cong Lorenz; Hệ số Gini; Mức độ nghèo khổ; Mức độ thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người; Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp; Chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống2. Trong thời gian gần đây, một thước đo được sử dụng nhiều là Chỉ số phát triển con người (HDI), do Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra và sử dụng lần đầu tiên năm 1990. Chỉ số này trải từ 0 (mức độ phát triển con người thấp nhất) đến 1 (mức độ phát triển con người cao nhất) và là trung bình cộng của các chỉ số tuổi thọ, trình độ giáo dục và thu nhập3. Trong phần nghiên cứu của nhóm sẽ không trình bày sâu vào số lượng và chất lượng tăng trưởng mà chỉ đi sâu vào việc ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội. 1.2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Việc xác định rõ khái niệm và tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội mặc dù phức tạp nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề cơ bản là giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội có quan hệ với nhau như thế nào, và do vậy có những quan điểm khác nhau về mối quan hệ này. Nhìn đại thể thì có ba trường phái quan điểm mang tính chất phổ quát, bao gồm: (1) quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất bình đẳng; (2) quan điểm cho rằng cần ưu tiên công bằng hơn tăng trưởng; và (3) quan điểm cho rằng tăng trưởng phải đi liền với công bằng. Những quan điểm này chi phối các chính sách kinh tế- xã hội của từng nước nhất định trong từng giai đoạn phát triển cụ thể, hay nói cách khác chúng có tính chất lịch sử cụ thể. Tuy vậy, trong những thập kỷ qua, có không ít bằng chứng cho thấy rằng những chính sách quá nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ công bằng xã hội và Ngược lại, quá nhấn mạnh công bằng xã hội mà coi nhẹ tăng trưởng kinh tế, đều dễ gây ra những trở lực ngăn cản sự phát triển. Vì lẽ đó, để đảm bảo đạt được mục tiêu phát triển bền vững ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế, quan điểm thứ ba ngày càng được nhấn mạnh, trở thành cơ sở nhận thức quan trọng để các chính phủ trong đó có Việt Nam lựa chọn các chính sách phát triển của mình. Theo quan điểm tăng trưởng đi liền với công bằng, giữa việc tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội có mối quan hệ mật thiết, hai chiều với nhau, bao gồm: (i) tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội; (ii) tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là biểu hiện của công bằng xã hội; (iii) công bằng xã hội là một trong những điều kiện không thể thiếu được để có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững; và (iv) công bằng xã hội là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế. Như vậy, theo quan điểm này, rõ ràng công bằng xã hội không đối lập với tăng trưởng kinh tế, Ngược lại là một yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Lập luận này đã tạo tiền đề và mở Đường cho các chính phủ xây dựng và thực thi những chính sách kết hợp giữa tự do kinh doanh với công bằng và đồng thuận xã hội. Những chính sách như vậy có tính đặc thù đối với từng loại nước và từng nước, tuy nhiên, chúng cần đảm bảo một sự phát triển sao cho người dân tìm thấy những cơ hội phát triển tốt hơn đồng thời được hưởng những lợi ích cần thiết để nâng cao đời sống. Theo một nhóm các nhà nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, có bảy công cụ chính sách có thể được sử dụng, bao gồm: (1) Các chính sách tạo ra sự biến đổi cả lao động và tư bản, khuyến khích sử dụng lao động lành nghề; (2) “Phân phối lại một cách năng động” tài sản bằng cách định hướng đầu tư vào các lĩnh vực mà những người nghèo có thể là người sở hữu như đất đai hoặc cửa hiệu nhỏ; (3) Mở rộng giáo dục để cải thiện mức độ biết đọc, biết viễt, kỹ năng lành nghề, cách tiếp cận với nền kinh tế hiện đại; (4) Chế độ thuế tiến bộ; (5) Cung cấp rộng rãi các mặt hàng tiêu dùng như lương thực, thực phẩm thiết yếu cho người nghèo; (6) Can thiệp vào thị trường hàng hoá để giúp đỡ những người sản xuất và người tiêu thụ nghèo; và (7) Phát triển công nghệ nhằm giúp cho những người có thu nhập thấp có được năng lực sản xuất cao hơn.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC