Tiểu luận Năng lực tiến hóa của tổ chức dân cư và cộng đồng

Khả năn g của xã hội để trả lời các vấn đề xã hội có thể là các quyết định đến tính đa dạn g của các dạn g tổ chức, trong 1 khoảng thòi gian dài, môi trường năng độn g, đa dạn g được gìn giữ hoặc tăng lên bởi nh ững dạn g mới. Hơn nữa, nhữn g dạng (mẫu) m ới là động cơ sốn g còn của sự tiến hóa tổ chức. Thực vậy, một thành phần quan trọng của sự thay đổ i tổ chức, ở mức vỹ mô gồm có sự chọn lọc và sự thay thế của những dạn g tổ chức h iện hữu bởi tổ chức dạng tổ chức mới. Hơn nữa, từ những dạng tổ chức mới này thì nhữn g hiện thân cấ u trúc của nhữn g công n ghệ, lòng tin, giá trị, và nhữn g kh uôn mẫ u, n ẩy sinh những sự chuy ển độn g xã hội trong nhữn g cơ quan mới, những côn g n ghệ mới với sự trợ giúp để nuôi dưỡng và phản chiếu văn hóa và thay đổi kỹ thuật trong xã hội. Vì những lý do này, đâu là nhữn g dạng tổ ch ức mới là một câu hỏi chính được đặt ra của những lý thuy ết gia tổ chức. Nhữn g dạn g tổ ch ức mới là nhữn g tái hợp mới của những mục đích, nh ững quan hệ nhà chức trách ( bao gồm những cấu trúc quản trị), côn g n ghệ và thị trường khách hàng. Sự tiến hó a của các dạng tổ chức mới tạo ra những khôn g gian tài n guy ên mới bởi những đặc trưng của cuộc thí sán g tạo trong số những tổ chức và những doanh nh ân đã có. Nó bắt đầu với sự tăn g nhanh từng phần của nhữn g biến đổi bên trong tồn tại của dân cư và cuối cùng là chỉ dẫn tới một tổ chức tạo ra suy n ghĩ có tính chất đổi mới , vượt qua những dạn g đã có để thiết lập cái mới. Dạn g tổ chức mới làm đôn g lại như là kết quả của 1 tiến trình cô lập hoặc tách r a từ 1 tổ chức khác, bao gồm kỹ thuật những tính không phù hợp, những hoạt độn g cơ quan như là điều chỉnh của chính phủ và imprinting. Sự nổ i lên của những dạn g tổ chức mới là một nguồn thiết yếu của sự biến đổi tổ chức, đóng một vai trò sống còn trong sự tạo thành tính đa dạng tổ chức. Nhữn g dân cư tổ chức – địa phươn g, nhóm tiến bộ của tổ chức gồm các dạng tổ chức giốn g nh au – phát triển những mối quan hệ v ới dân cư tổ chức hòa nhập trong các hoạt độn g khác và kết nối chúng bên trong các cộng đồn g tổ chức. Cộn g đồn g tổ chức cấu thành hệ thống hợp nhất theo chức năng tươn g tác dân cư tổ chức (Hawley, 1950). Dân cư tổ chức thì không phải là tổ chức, tươn g tác hình thành cộng đồn g. Trong cộng đồn g tổ chức, hậu quả cho tổ chức từ bất kỳ 1 dân cư hay chồn g ch éo chức năn g với các tổ chức khác thuộc về cùng hệ thống cộng đồn g. Ở mức độ cao hơn, cộn g đồng tổ chức tương tác đến dạn g của hệ sinh thái tổ chức, bao gồm hệ sinh thái quốc gia (Baum and Korn, 1994). Mặc dù Hannan và Freeman (1977) gọi n gh iên cứu tại mức độ quần thể như một bước đầu tiên dễ dàn g n ghiên cứu các hiện tượng mức cộng đồn g, n ghiên cứu theo vết tích sinh thái học tổ ch ức tập trun g ch ủ y ếu trên những mô hình sinh thái học của sự tăng trưởng và sự suy tàn dân cư của nh ững quần thể địa phương của nh ững dạng tổ chức thiết lập. Những mô hình sinh thái học cộng đồng nhấn mạnh tiến trình của sán g tạo (thí dụ, sự hình thành loà i) và sự thất bại (v í dụ, sự hủy diệt) của dân cư tổ chức và các dạn g và gửi sự tiến hóa c ủa tổ chức cộng đồn g kết khối sự đôn g cứng lại cùng nha u của những dân cư tổ ch ức và ảnh hưởn g đến sự liên tục và sự bền v ững đến hết thảy các cộn g đồn g. Câu hỏi n guyên bản của tổ chức sinh thái học - tại sao có rất nhiều loại tổ chức – vì vậy mới có sự theo đuổi khó khăn. Vậy thì, chúng tôi vẫn còn biết quá ít nhữn g quá trình dẫn tới sự hiện ra của nh ững dạn g tổ chức mới, những cấu trúc của sự thừa kế tổ chức điều đó n uôi dưỡng sự liên tục của họ và sự biến đổi theo thời gian

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC