Toàn cầu hóa, thương mại và đói nghèo: Bài học từ ngành cà phê Việt Nam

Các nước xuất khẩu cà phê chỉ tiêu dùng một lượng cà phê chiếm trên 20% tổng cầu cà phê thế giới. Một nửa trong số 20% này được tiêu dùng tại Brazil, nước có mức tiêu thụ trong nội địa chiếm tới 40% tổng sản lượng sản xuất ra. Mức tiêu thụ nội địa hiện tại của các nước sản xuất cà phê, trừ Brazil rất thấp so với mức tiêu dùng tiềm năng. Mức tiêu dùng cà phê ở Indonesia và Việt Nam, hai nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới, tương ứng là 0,5 và 0,37 kg trong khi mức tiêu dùng cà phê bình quân đầu người trên thế giới năm 1998 là 4,63 kg/người trong đó Mỹ là 4,14 kg/người, EU là 5,52 kg/người, Nhật là 3,92 kg/người, Brazil là 4,58 kg/người. Kể từ những năm 90, trong khi tốc độ tăng trưởng cầu tại những nước nhập khẩu truyền thống, chủ yếu là các nước phát triển, có chiều hướng đi xuống, tiêu dùng cà phê của những nước đang phát triển tăng nhanh, đạt mức 9%/năm. Mức tiêu dùng bình quân trong vòng 10 năm trở lại đây đã giảm 38,5% ở Hà Lan, 27,8% ở Thuỵ Điển và 32% ở Bỉ, 18,9% ở Đức và 4,5% ở Mỹ. Tính chung kể từ thập kỷ 90, cầu cà phê chỉ tăng ở mức 1,5%/năm, rất chậm so với cung. Mức tiêu thụ tăng chậm trong khi sản lượng sản xuất tăng đã đẩy giá cà phê xuống rất thấp trong những năm vừa qua. Một số đặc điểm chính của thị trường cà phê toàn cầu gồm có: Thứ nhất, nhu cầu nhập khẩu cà phê ở các nước lớn nhìn chung đang tăng chậm lại. Trong khi đó, một số thị trường đang tăng nhu cầu mạnh, và bắt đầu xuất hiện một số nhu cầu tiêu thụ loại cà phê mới, như cà phê hoà tan giá rẻ.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC