Vai trò của nghệ nhân dân gian trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ

Trong xu thế toàn cầu hóa, đô thị hoá, thƣơng mại hoá hiện nay đƣơng nhiên có những tác động tiêu cực đến việc bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống, nguy cơ mất bản sắc văn hóa dân tộc là nguy cơ có thật đối với các nƣớc đang phát triển. Trong vài thập kỷ qua Unesco khuyến khích các quốc gia đặc biệt là các nƣớc đang phát triển giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình thông qua việc công bố “ Công ƣớc về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể 1. Mỗi một quốc gia có những phản ứng khác nhau trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, những giá trị văn hoá truyền thống và sử dụng bản sắc văn hóa trong việc phát triển kinh tế xã hội trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế hội nhập nhƣ hiện nay. Trƣớc nguy cơ bản sắc văn hoá đang dần bị mai một trong khoảng vài chục năm trở lại đây nhất là từ sau Đổi mới đến nay Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống trƣớc nguy cơ bị mai một. Việt Nam đã ký vào “ Công ƣớc bảo vệ văn hoá phi vật thể” của Unesco với tƣ cách là một thành viên và đã triển khai nhiều chƣơng trình nhằm bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể. Thủ tƣớng chính phủ đã phê chuẩn 6 di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên của Việt Nam sẽ lần lƣợt đăng ký để Unesco công nhận là kiệt tác di sản văn hoá phi vật thể thế giới, đó là Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên (2 di sản này đã đƣợc công nhận), không gian văn hoá quan họ, ca trù, múa rối nƣớc và sử thi Tây Nguyên. Từ đó cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này nhƣng tôi chọn một vấn đề nghiên cứu rất nhỏ về vai trò của một nghệ nhân dân gian cụ thể đối với vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối nƣớc, một “case study”.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC