Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng

Người làm chứng (NLC) là người biết về một tình tiết nào đó có ý nghĩa cho việc điều tra, xét xử vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập tham gia vào vụ án để trình bày lời khai của mình (Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự [BLTTHS]). NLC tham gia vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 133 BLTTHS). Bên cạnh những thuộc tính chung như bất kỳ chứng cứ nào thì lời khai NLC có những đặc điểm riêng. Đó là tính không thể thay thế của nó. Một người không thể đồng thời vừa là NLC vừa là bị can, vừa là NLC vừa là người giám định. Lời khai NLC là loại chứng cứ mà nguồn của nó là những con người cụ thể - tính cá biệt cao. Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách và nhân cách. Lời khai NLC, thủ tục tuyên thệ (cam đoan) chỉ nói sự thật của NLC trước tòa có cội nguồn xa xưa. So với nhiều chế định khác thì chế định NLC là một trong những chế định cổ xưa nhất của tố tụng hình sự (TTHS). Từ bao đời nay lời khai của NLC luôn được nhìn nhận là nguồn chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Trong lịch sử phát triển của khoa học TTHS, chế định NLC đã trải qua những thăng trầm nhất định và ngày nay lời khai của NLC chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chứng cứ của TTHS nhiều nước trên thế giới. Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì lời khai NLC càng được sử dụng phổ biến bấy nhiêu. Niềm tin vào lời khai NLC trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án là một phần niềm tin của con người vào sự công minh, khách quan của hoạt động xét xử. Có thể nói là trong tương lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa, dù máy móc tự động có thể thay thế hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau đi chăng nữa thì lời khai NLC vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động xét xử. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai NLC nhưng không thể thay thế lời khai NLC. Lời khai NLC vẫn là một trong những công cụ không thể thiếu được trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Ở Liên bang Nga khi thăm dò ý kiến của các thẩm phán về việc chứng cứ nào mà họ cho là quan trọng nhất trong hoạt động xét xử thì kết quả trả lời cho thấy lời khai NLC chiếm vị trí số một, thứ hai là kết luận giám định và thứ ba là lời khai người bị hại. Điều này có thể hiểu được bởi lẽ NLC khác với người bị hại (NBH). NBH là nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan của họ về các tình tiết của vụ án so với lời khai của NLC. Lời khai NBH không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó. Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đồng thời còn là quyền tố tụng của NBH. Ở góc độ này NBH được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội. Còn NLC là chủ thể của chức năng hỗ trợ tư pháp - chức năng không cơ bản trong TTHS. Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiều trong khoa học TTHS ở nước ta. Sự hạn chế về lý luận khoa học này chính là nguyên nhân chậm thay đổi trong tư duy lập pháp khi sửa đổi BLTTHS 2003 và thái độ đối xử không công bằng với NLC trong thực tiễn tố tụng. Khách quan mà nói thì BLTTHS 2003 có một số bổ sung về quyền của NLC so với BLTTHS 1988 như quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của người, cơ quan có thẩm quyển tiến hành tố tụng, quyền được thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật (Điều 55 BLTTHS 2003). Đây là tín hiệu đáng mừng về sự thay đổi tư duy lập pháp về NLC, nhưng các bổ sung này chưa kèm theo những bảo đảm và chưa được cụ thể hóa nên tính hiện thực trong thực tiễn chưa cao. Lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợi cho bị cáo do vậy về lý thuyết người ta có phân biệt NLC của bên buộc tội và NLC của bên bào chữa nhưng về bản chất của mình NLC là chủ thể tham gia tố tụng không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án. Lý do tham gia của họ trong vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của họ mà là lợi ích chung của xã hội: làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Dù là NLC của bên buộc tội hay NLC của bên bào chữa thì họ đều có sự quan tâm duy nhất là sự thật khách quan của vụ án phải được sáng tỏ và sự tham gia của họ góp phần cho nhiệm vụ đó. Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực tất cả những gì mà mình biết vừa là nghĩa vụ công dân vừa là nghĩa vụ tố tụng của họ. Nhưng đối với nhà nước thì NLC chính là những người cộng tác với nhà nước, với cơ quan tiến hành tố tụng. Nhà nước cần đến sự hợp tác đó. Theo lôgíc này thì NLC phải được hoan nghênh, được trải thảm đỏ khi tham gia trong TTHS hoặc chí ít thì quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ phải cân bằng với nhau. Nhưng khi phân tích các quy định của BLTTHS 2003 thì chúng ta sẽ thấy không có sự tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ tố tụng của NLC. Nghĩa vụ của NLC nhiều và nặng nề hơn rất nhiều so với quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng mặc dù họ có vai trò quan trọng trong vụ án.[1] NLC có thể bị dẫn giải nếu vắng mặt không có lý do chính đáng và gây khó khăn trở ngại cho việc điều tra, xét xử. Nếu từ chối hoặc trốn tránh khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 Bộ luật Hình sự (BLHS), nếu khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 BLHS. Nói chính xác thì NLC không được hưởng một lợi ích vật chất hay tinh thần nào khi tham gia vào vụ án. Các quyền mà BLTTHS thừa nhận cho NLC chỉ là quyền yêu cầu được bù đắp những thiệt thòi mất mát hoặc ngăn chặn những mất mát, tổn thất có thể xảy ra đối với họ liên quan đến sự hợp tác của họ với cơ quan tiến hành tố tụng mà thôi. BLTTHS 2003 chưa tạo ra được cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khích NLC tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm và xác lập chân lý của vụ án. Chỉ xét riêng ở khía cạnh kinh tế, sự vắng mặt của NLC tại phiên tòa buộc tòa án phải hoãn phiên tòa xét xử vụ án cũng đã làm thiệt hại đáng kể cho ngân sách nhà nước. NLC không trình diện tại phiên tòa có thể vì nhiều lý do như sợ bị đe dọa nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình hay người thân của mình, không muốn bị phiền phức vì những việc không liên quan đến họ, do bận rộn công việc hoặc đơn giản chỉ vì họ quên. Tại Anh trong năm 2002-2003, 2.845 vụ án ở Tòa án Hoàng gia và 13.328 vụ án ở tòa án sơ thẩm đã bị hoãn vì nhân chứng vắng mặt, chiếm 22% và 26% số vụ án bị hoãn. Cơ quan kiểm toán quốc gia Anh ước tính mỗi năm các phiên tòa bị hoãn đã gây thiệt hại 41 triệu bảng (hơn 1.000 tỷ đồng). [2] Bên cạnh thiệt hại về kinh tế thì thiệt hại về công lý mới đáng quan tâm hơn. Không có lời khai NLC, NLC phản cung, thay đổi lời khai ban đầu. làm cho hoạt động xét xử gặp khó khăn thậm chí bế tắc, kẻ phạm tội đích thực vẫn tiếp tục nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, nhiệm vụ của TTHS không hoàn thành, chân lý khách quan của vụ án không xác định được.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

HỖ TRỢ TÌM VÀ TẢI TÀI LIỆU

  • Từ ngày 01/05/2022

    Luanvan365 sẽ có thêm dịch vụ hỗ trợ các bạn tìm kiếm các tài liệu, luận văn ở nhiều website khác nhau
    Bạn có thể liên hệ với Admin để được hỗ trợ nhé
  • THÔNG TIN LIÊN HỆ


    Phone: 0909.773687 (Zalo, Text) Facebook : Facebook chat hỗ trợ

  • XEM THÊM THÔNG TIN

    Xem thêm bài viết
LIÊN HỆ NGAY

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY