Đề tài Hoàn thiện tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội, và cũng là bản chất của Nhà nước Việt Nam. Hay nói cách khác, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [1]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng, nhà mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, không chỉ để lại những kiến giải sâu sắc về dân chủ và thực hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ đối với con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống. Lúc sinh thời, Người đã từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, là chìa khóa vạn năng để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [24, t.8, tr. 279]. Xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, đối với cơ sở việc thực hành dân chủ rộng rãi có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện rõ nhất bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Chỉ thị đã xác định: ". để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng. Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất’’. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, để cụ thể hoá các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 (sau được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định các nội dung, phương thức và trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Và sự kiện quan trọng nhất nhất, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đối với hệ thống chính trị - xã hội nước ta, đó là Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007), đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Trên đây là những văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu những bước quan trọng việc thể chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' của Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ cơ sở. Thực hành dân chủ ở cơ sở là việc đảm bảo quyền làm chủ trực tiếp cho người dân ở nơi cư trú, cơ quan và đơn vị công tác. Tuy nhiên có thể thấy rằng việc thực hiện dân chủ ở cấp xã, tức là đảm bảo quyền làm chủ trực tiếp của người dân ở nơi cư trú (cấp cơ sở trong hệ thống các cấp quản lý hành chính Nhà nước) có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong việc giữ vững niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước, trong việc giữ gìn và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta. Vì đó là địa bàn sinh sống, lao động và sản xuất, là nơi diễn ra sự tiếp xúc hằng ngày giữa nhân dân và chính quyền, là nơi thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân, đồng thời là nơi đảm bảo nhu cầu được biết, được bàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở của nhân dân, cũng là nơi nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cơ sở. Thực hiện dân chủ ở cơ sở luôn là vấn đề mang tính thời sự và đòi hỏi phát triển không ngừng, đầy tính sáng tạo. Vì thế, chúng ta vừa phải đi sâu nghiên cứu và nhận thức đúng đắn về lý luận, vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để tìm ra hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp để đưa QCDC vào cuộc sống. Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và thực hiện các quy định về dân chủ ở cơ sở, dân chủ ở cấp xã, cho đến nay chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước và đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: “Quốc hội, Chính phủ đã thể chế hoá trong nhiều văn bản pháp quy về thực hiện QCDC cho một số loại hình cơ sở; các cơ quan, đơn vị, cơ sở đã tích cực xây dựng quy chế, quy định; thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước thực hiện dân chủ trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực hiện QCDC cơ sở được gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ thục hành chính, cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở. Nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả. Dân chủ và thực hành dân chủ XHCN ở nước ta, nhất là dân chủ trực tiếp của nhân dân tiếp tục được coi trọng, tăng cường. Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở đã góp phần đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các Đoàn thể nhân dân; phát huy tính tiền phong, gương mẫu, chấn chỉnh phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức theo hướng sát dân, trọng dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; góp phần quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí; tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, nhà nước với nhân dân; chống lại các âm mưu lợi dụng dân chủ, dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [15]. Tuy nhiên, những kết quả đạt được nêu trên mới chỉ là bước đầu, vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém trong triển khai thực hiện: “Việc xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước không ít nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao, chưa thành nền nếp. Một số xã, phường, thị trấn chưa làm tốt việc công khai, dân chủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá cả đền bù khi chuyển mục đích sử dụng đất, chính sách tái định cư. Không ít cơ quan thiếu công khai, dân chủ về quản lý thu, chi tài chính công, nâng lương, quy hoạch đào tạo, đề bạt cán bộ. Phần lớn các doanh nghiệp tư nhân, cơ sở dịch vụ ngoài công lập và một số doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn chưa xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; thiếu công khai, dân chủ về sản xuất, kinh doanh, tiền lương, tiền thưởng và thực hiện chế độ bảo hiểm đối với người lao động. Một số nơi nội bộ lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền mất đoàn kết; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn kịp thời; tình hình khiếu kiện của nông dân, đình công, bãi công của công nhân diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với cấp uỷ, chính quyền” [15]. Đây là những thành tựu, hạn chế chung được tổng kết và rút ra sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị. Bắc Ninh, một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Đông nam và Nam tiếp giáp với tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, phía Tây và Tây bắc tiếp giáp với thủ đô Hà Nội. Đây cũng là vùng đất giàu truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng. Ngay từ năm 1926 những thanh niên, học sinh và trí thức yêu nước của Bắc Ninh với tố chất thông minh đã sớm tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mac - Lênin vào địa phương, tiêu biểu như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt và đã trở thành những lãnh tụ xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam. Từ xa xưa nhân dân Bắc Ninh đã sớm chủ ý đến sản xuất vật phẩm tiêu dùng, tiểu thủ công nghiệp. Hệ thống làng nghề xuất hiện sớm, các sản phẩm của làng nghề phong phú đa dạng (đúc đồng, đồ sắt, đồ gốm, dệt lụa.). Do thương mại phát triển nên hoạt động buôn bán ở Bắc Ninh cũng khá sôi nổi; nhiều làng buôn đã xuất hiện, thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông cuả hàng hóa ở các làng nghề (các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng - Từ Sơn; Xuân Cầu, Đa Ngưu). Tuy nhiên, dù làm ruộng, làm nghề thủ công hay buôn bán, từ thượng cổ cho đến ngày nay, nhân dân Bắc Ninh vẫn sống gắn bó cùng nhau với mô hình cộng đồng làng xóm. Do đó, nghiên cứu việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và phân tích để đưa ra các kết luận giải pháp hoàn thiện có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển của một địa phương điển hình và trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

HỖ TRỢ TÌM VÀ TẢI TÀI LIỆU

  • Từ ngày 01/05/2022

    Luanvan365 sẽ có thêm dịch vụ hỗ trợ các bạn tìm kiếm các tài liệu, luận văn ở nhiều website khác nhau
    Bạn có thể liên hệ với Admin để được hỗ trợ nhé
  • THÔNG TIN LIÊN HỆ


    Phone: 0909.773687 (Zalo, Text) Facebook : Facebook chat hỗ trợ

  • XEM THÊM THÔNG TIN

    Xem thêm bài viết
LIÊN HỆ NGAY

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY