Trong những năm qua, cùng với thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đã có những đổi mới sâu sắc, đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng đã có rất nhiều các vụ đổ bể tín dụng nghiêm trọng xảy ra như các vụ án TAMEXCO, EPCO - Minh Phụng.Mà nguyên nhân sâu sa của các vụ đổ bể tín dụng này là do một số Ngân Hàng Thương Mại đã không thực hiện được đầy đủ cơ chế bảo đảm tiền vay, dẫn tới tình trạng đánh giá sai lệch giá trị tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, một số Ngân Hàng còn nhiều sơ hở trong quản lý tài sản bảo đảm, dẫn đến nhiều tài sản bảo đảm thực tế chỉ tồn tại trên giấy tờ của Ngân Hàng lập ra, còn tài sản thì vẫn do khách hàng nắm giữ và sử dụng không được pháp luật cho phép, thậm chí tổ chức tín dụng còn chấp nhận cả những tài sản không đủ điều kiện quy định. Sau những tổn thất đó, các Ngân Hàng lại ra sức thắt chặt các điều kiện quy định về cho vay của mình với mục địch nhằm ngăn chặn tối đa các tổn thất có thể xảy ra. Việc thắt chặt hoạt động cho vay đó của Ngân Hàng bằng việc quy định chặt chẽ hơn, yêu cầu cao hơn đối với hoạt động cho vay có bảo đảm và nghĩ rằng: như vậy thì khoản cho vay sẽ được bảo đảm hơn, sẽ có sự lựa chọn khách hàng kỹ càng hơn.và trên cả là tạo ra được hành lang an toàn cho hoạt động của mình, thu hồi lại được số vốn bỏ ra và thu lãi. Nhưng có chắc rằng việc thắt chặt quy định về cho vay có bảo đảm sẽ đạt được sự an toàn như mong muốn hay không? Thực tế thì thấy rằng, các Ngân Hàng đã tạo ra một hàng rào cản có hiệu quả trong việc lọc các khoản vay có hiệu quả, nhưng đồng thời họ cũng gặp rất nhiều khó khăn và trước tiên là đánh mất đi rất nhiều khách hàng có tiềm năng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc mất đi một khoản lợi nhuận mà lẽ ra là có được. Hơn nữa, việc thắt chặt như vậy cũng không phải là biện pháp bảo đảm an toàn mà chỉ làm cho Ngân Hàng xa dời đi vai trò quan trọng và truyền thống của Ngân Hàng từ xưa là chuyển vốn từ nơi thiếu vốn sang nơi thừa vốn. Sở Giao Dịch I - Ngân Hàng Công Thương Việt Nam cũng không nằm ngoài suy nghĩ đó. Sở Giao Dịch I - Ngân Hàng Công Thương Việt Nam đã khép cửa lại với một số lượng lớn khách hàng và có yêu cầu rất cao đối với một lượng lớn khách hàng nữa, mà những khách hàng này lại là nguồn có thể thu lợi nhuận cao cho Ngân Hàng và họ cũng là những tổ chức có thể đảm bảo an toàn. Qua thời gian thực tập tại Sở Giao Dịch I - Ngân Hàng Công Thương Việt Nam, em nhận thấy Sở Giao Dịch I - Ngân Hàng Công Thương Việt Nam đã chỉ áp dụng hình thức cho vay baỏ đảm không bằng tài sản cho thành phần kinh tế quốc doanh, còn thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì bắt buộc phải bảo đảm bằng tài sản. Một khoản cho vay an toàn không chỉ đơn giản như vậy, không phải chỉ dựa trên các yêu cầu về bảo đảm, về việc cho vay một số đối tượng khách hàng, mà đó là sự đánh giá khách hàng trên nhiều phương diện. Vì vậy, em chọn đề tài: "Một số giải pháp hoàn thiện và tăng cường bảo đảm tiền vay tại Sở Giao Dịch I- Ngân Hàng Công Thương Việt Nam". Luận văn của em chia làm ba chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm tiền vay. Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ bảo đảm tiền vay tại SGDI - NHCTVN. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và tăng cường bảo đảm tiền vay tại SGDI-NHCTVN.
Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, việc đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị trở thành thách thức đáng kể đổi với phần lớn các ...
1. Thị trường nước giải khát Thị trường nước giải khát tại Việt Nam có tốc độ phát triển khá nhanh trong những năm g ...
Tóm tắt nghiên cứu • Kết quả khảo sát 200 người có nấu ăn và quyết định chính nhãn hiệu dầu ăn cho thấy: Neptune và ...
Tăng trưởng GDP: Mặc dù trong năm qua kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ trong và ngoài nước, ...
Thị trường đồ uống toàn cầu luôn duy trì sự phát triển tích cực và có nhiều tiềm năng chưa được khai thác hiệu quả. ...
Hỗ trợ download nhiều Website
Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay
Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay