Tóm tắt Luận án Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu kinh tế: Trường hợp Khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh hóa

Khu kinh tế (SEZ) là một thuật ngữ chung bao gồm khu thương mại tự do (FTZ), Khu chế xuất (EPZ), Khu kinh tế (EZ), Đặc khu kinh tế (SEZ), và Cảng tự do (FPS) (UNIDO, 2015). Ban đầu, các đặc khu kinh tế được hiểu như khu vực tự do, đã tồn tại trong thương mại quốc tế cho khoảng 2.500 năm, lần đầu tiên ở Trung Quốc cổ đại, sau đó là trong đế quốc La Mã (World bank, 1992). Ban đầu, tồn tại dưới dạng các cảng tự do, các KKT tập trung vào phát triển hạ tầng và được định nghĩa là “mô hình sản xuất kết hợp với các kỹ thuật công nghiệp, cung cấp một cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất để thu hút các nhà đầu trong nước và nước ngoài” (Amado, 1989). Hiện nay các khu kinh tế trở nên khá phổ biến trên thế giới và được biết đến như một “khu vực địa lý mà có luật lệ kinh tế có nhiều tự do hơn so với hệ thống pháp luật chung của quốc gia” (Chikatisrinu, 2013). Các khu kinh tế ngày càng khẳng định vai trò của mình vào sự phát triển kinh tế xã hội. Theo thống kê của Tổ chức công nghiệp thế giới, tính đến năm 2015, đã có khoảng 4.500 khu kinh tế (SEZ) tại 140 quốc gia sử dụng khoảng 66 triệu người trên toàn thế giới (UNIDO, 2015). Ở Việt Nam, khu kinh tế được xác định là mô hình mới mang tính đột phá cho sự phát triển kinh tế các vùng trên cơ sở khai thác các lợi thế về tự nhiên và vị trí địa lý. Kể từ năm 2003, khu kinh tế Chu Lai là khu kinh tế mở đầu tiên được thành lập, đến nay, 18 khu kinh tế ven biển đã được thành lập theo mô hình này (trong phạm vi luận án này gọi tắt là KKT) trong đó 16 khu đã đi vào hoạt động. Các KKT cả nước thu hút được ước tính khoảng 300 dự án FDI với tổng mức đầu tư hơn 39 tỷ USD và khoảng 840 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư gần 566 nghìn tỷ đồng (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015). Sự ra đời và phát triển của các KKT đã đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước. Đây cũng chính là chủ trương đúng đắn, góp phần tích cực chuyển một bộ phận lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn (khu vực có năng suất lao động thấp) sang khu vực công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao hơn. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm ra đời và hoạt động, các KKT Việt Nam chưa thể hiện được vai trò động lực phát triển vùng như mục tiêu đề ra; công tác phối hợp phát triển các ngành, lĩnh vực trong KKT theo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch vẫn chưa thực hiện tốt đặc biệt tỷ lệ lấp đầy của các KKT còn thấp; các dự án đăng ký kinh doanh chưa nhiều thậm chí các dự án đăng ký mà không thực hiện buộc phải hủy bỏ, hạ tầng của các khu kinh tế còn chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển Các khu kinh tế hiện tại cho đến nay, hầu như chưa có những nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Một số nhà đầu tư đã thực hiện các dự án đầu tư lớn nhưng ít có dự án đầu tư với công nghệ hiện đại (Trần Đình Thiên, 2014; Võ Đại Lược, 2009). Đặc biệt, thể chế của các Khu kinh tế Việt Nam cũng chưa thực sự “đột phá” như các đặc khu kinh tế của Trung Quốc, Ấn Độ (Nguyễn Quang Thái, 2010). Vì vậy, về bản chất các Khu kinh tế ở Việt Nam chưa thực sự có sự khác biệt lớn so với các Khu công nghiệp. “Thể chế ở các khu kinh tế này tuy có vượt trội so với các khu công nghiệp, nhưng chỉ tập trung vào các ưu đãi về thuế, về tiền thuê đất nên so với các khu thương mại tự do trong khu vực và trên thế giới còn nhiều bất cập không đủ sức cạnh tranh” (Vương Đình Huệ, 2014). Vậy thì ở Việt Nam, một thể chế “đột phá” có thực sự cần thiết cho các khu kinh tế? Có rất nhiều các nghiên cứu và các chính sách được đề xuất để nhằm phát triển các khu kinh tế đặc biệt là các chính sách thu hút đầu tư. Tuy nhiên, chưa có nhiều nhà nghiên cứu đánh giá việc thu hút đầu tư từ góc độ các nhà đầu tư, tức là các doanh nghiệp - các khách hàng của KKT. Khu kinh tế Nghi Sơn được thành lập năm 2006, là một trong số năm KKT trọng điểm được đầu tư từ NSTW giai đoạn 2013-2015. Đến hết năm 2015, KKT Nghi Sơn đã có 149 dự án đăng ký hoạt động với số vốn đăng ký kinh doanh tương đương hơn 16,8 tỷ USD (97.000 tỷ đồng và 12,3 tỷ USD) (BQLKKT Nghi Sơn, 2015) trong đó có dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án đầu tư có qui mô lớn nhất nước hiện nay với vốn đăng ký hơn 9 tỷ USD. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVII đã xác định, xây dựng và phát triển KKT Nghi Sơn thành trọng điểm kinh tế của tỉnh và khu vực; trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Bên cạnh những thành công bước đầu trong nỗ lực thu hút đầu tư của Tỉnh, KKT Nghi Sơn còn đối mặt với nhiều hạn chế chung của các KKT Việt Nam đặc biệt là số dự án đã đi vào hoạt động còn ít (74 dự án, năm 2015), cơ sở hạ tầng còn chưa hoàn thiện, các chính sách ưu đãi và cơ chế quản lý chưa thực sự hấp dẫn như đặc trưng của Khu kinh tế mở

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

HỖ TRỢ TÌM VÀ TẢI TÀI LIỆU

  • Từ ngày 01/05/2022

    Luanvan365 sẽ có thêm dịch vụ hỗ trợ các bạn tìm kiếm các tài liệu, luận văn ở nhiều website khác nhau
    Bạn có thể liên hệ với Admin để được hỗ trợ nhé
  • THÔNG TIN LIÊN HỆ


    Phone: 0909.773687 (Zalo, Text) Facebook : Facebook chat hỗ trợ

  • XEM THÊM THÔNG TIN

    Xem thêm bài viết
LIÊN HỆ NGAY

TIN KHUYẾN MÃI

  • thư viện luận văn

    Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • thư viện luận văn

    Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • thư viện luận văn

    Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY